Sơ lược về cà phê Brazil – Bản đồ cà phê Châu Mỹ | Primecoffee

Khoảng một phần ba cà phê thế giới được trồng ở Brazil. Những loại cà phê cao cấp được dán nhãn Santos của Brazil đã xuất khẩu đi nhiều quốc gia tại các châu lục. Là nước lớn nhất thế giới về mặt diện tích cũng như sản lượng trên bản đồ cà phê thế giới, cung cấp khoảng 60% cà phê giao dịch toàn cầu – điều này một phần là do quy mô của đất nước. Độ cao trung bình của các cây cà phê tại Brazil chỉ khoảng 1.100 mét, đủ điều kiện phát triển cho các loại Cà phê Hight Grown (900-1.200 mét).


  Xem thêm Hình ảnh và thông tin về Cà phê Brazil


Ban-do-ca-phe-Brazil-PrimeCoffee
Bản đồ Cà phê Brazil

Thông tin tổng quan về cà phê Brazil

Brazil là nước trồng cà phê lớn hàng đầu thế giới, những thông số sau đây được thống kê bởi ICO vào năm 2015:

  • Dãy độ cao : 400 – 1.600 mét so với mực nước biển
  • Các giống thông thường : Bourbon, Typica, Caturra, Catuai, Acaia, Mundo Novo, Icatu
  • Mùa hu hoạch : Tháng 5 – Tháng 9
  • Sản xuất : 3.324.793 tấn (2015)
  • Xuất khẩu: 2.436.433 tấn chiếm khoảng 66% ( 2015)
  • Sản lượng hàng năm : Khoảng 50 triệu bao (2015)
  • Phương pháp chế biến: Đa phần chế biến khô, và chế biến theo phương pháp truyền thống Pulped Natural

Khái quát lịch sử cà phê Brazil

Cây cà phê đầu tiên được trồng bởi người Mỹ bản xứ – Francisco de Melo Palheta, ở bang Pará, Brazil vào năm 1727. Từ đó diện tích trồng cà phê đã lan rộng từ Paras đến Rio de Janeiro năm 1770. Cà phê ban đầu được trồng chỉ để tiêu dùng trong nước, cho đến thế kỷ 19, khi nhu cầu Cà phê bắt đầu tăng ở Mỹ và Châu Âu nước này mới bắt đầu xuất khẩu. Đến năm 1820, các đồn điền cà phê bắt đầu mở rộng ở Rio de Janerio, Sao Paulo, và Minas Gerais, Brazil đã chiếm 20% sản lượng thế giới. Chỉ mười thập kỷ sau đó 1830, cà phê trở thành sản phẩm xuất khẩu lớn nhất của Braxin và chiếm 30% sản lượng thế giới.

Trở thành quốc gia dẫn đầu

Đến năm 1920, Brazil gần như độc quyền ngành cà phê thế giới khi cung cấp 80% lượng giao dịch. Mặc dù có một chút suy giảm vào năm 1960 nhưng vẫn chiếm tận 60%, và vẫn giữ vững vị trí hàng đầu thế giới trong 150 năm trở lại đây. Từ đây dữ liệu ngành cà phê Brazil đã được thống kê rõ ràng và dễ dàng tìm kiếm, các bạn có thể tìm thấy thống kê gần nhất trên ICO.

Những đáng chú ý về ngành cà phê Brazil

Do có độ cao tương đối thấp ở Braxin, chỉ có rất ít khi có cà phê của Braxin có tên là Strictly High Grownigh Grown (SHG). Phần lớn cà phê được trồng ở Braxin là giống Arabica có độ cao thấp, hiếm có chất lượng cao (không phải là xấu, nhưng không được coi là cà phê cao cấp).

Các giống Arabica từ Brazil

Brazil đã góp phần không ít vào cơ cấu giống cà phê trên toàn thế giới, Rất nhiều các giống cà phê Arabica đột biến tự nhiên hoặc được lai tạo đả phổ biến bên ngoài biên giới Brazil và đến với các quốc gia Trung – Nam Mỹ rồi sau đó phổ biến toàn cầu. Điển hình như cây cà phê Caturra một dạng đột biến lùn của giống cà phê Boubon được thực hiện bởi Viện Nông nghiệp Brazil (Agronomic Institute of Campinas – IAC), hay giống Mundo Nouvo đang phổ biến tại khu vực Trung Mỹ cũng được lai tạo từ cà phê Brazil..

Thu hoạch bằng máy và chế biến Pulpe

Là quốc gia dẫn đầu về sản lượng, cà phê Barzil đa phân được thu hoạch bằng máy. có thế là máy cầm tay để tuốt quả, hoặc máy thu hái tự động trên những trang trại cà phê lớn. Điều này khá đối nghịch với các khu vực sản xuất cà phê Châu Phi như Ethiopia, Burundi, hay Tazania  – cà phê được thu hai thủ công, với sự chọ lựa nghiêm ngặt. Có nhiều chỉ trích trong giới Special Coffee đối với phương pháp này của cà phê Brazil, Song để đạt được sản lượng, thì đánh đổi một phần chất lượng là tất yếu.

ca-phe-che-bien-mat-ong-ca-phe-che-bien-ban-uot 900x560
Cà phê Brazil chế biến Pulpe (chế biến bán ướt hay còn gọi là chế biến mật ong)

Điểm đáng chú ý khác trong ngành cà phê Brazil là hầu hết cà phê được chế biến Pulpe – Một phương pháp khá tương đồng với phương pháp chế biến bán ướt khii mà cà phê được xát vỏ và phơi khô với một phần chất nhầy còn lại.

Sương muối – Vấn đề hàng đầu của cà phê Brazil

Cây cà phê có thể chịu được nhiệt độ thấp, nhưng không phải băng giá. Mưa băng giá, Theo các tài liệu của Việt Nam là “Sương muối” (thật không hiểu vì sao lại gọi vậy khi nguyên gốc của cụm từ này là White Frosts), do trời mưa trong lúc nhiệt độ có thể xuống dưới -3oC.

Mưa băng giá – Sương muối hay White Frosts sẽ làm chết những bông hoa trong giai đoạn phát triển thành quả cà phê. Vì vậy sương muối chỉ ảnh hưởng lớn đến vụ thu hoạch năm sau, nhưng những đợt sương muối nghiêm trọng có thể giết toàn bộ cây. Các cây cà phê mới phải được trồng sau vụ sương muối, và phải mất để cây bắt đầu sinh trưởng, thường là 3-4 năm cho để khi cho quả. Brazil là nước sản xuất lớn nhất bị tổn thương do sương muối.

Những đợt sương muối nặng nề trong lịch sử cà phê Brazil

Những đợt sương muối khắc nghiệt có thể đẩy giá cà phê thế giới tăng lên do thị phần lớn của Brazil. Vụ sương muối nghiệm trọng nhất trong lịch sử năm 1975 xảy ra vào ngày 18 tháng 7. Ngay sau vụ đó mùa thu hoạch năm 1975/76 đã không bị ảnh hưởng nặng nề vì 2/3 vụ thu hoạch đã hoàn thành, nhưng vụ mùa 1976/77 bị ảnh hưởng nặng hơn với 73,5% số cây bị ảnh hưởng. Giá cà phê tăng gấp đôi vào năm 1976-1977 và không giảm nữa cho đến vụ thu hoạch thành công vào tháng 8 năm 1977.

Vụ sương muối lớn tiếp theo diễn ra năm 1994 khi hai đợt sương muối đặc biệt khắc nghiệt xảy ra vào tháng 6 và tháng 7 trong năm Khoảng thời gian hai tuần. Mặc dù không trầm trọng như năm 1975, các đợt sương giá đã làm giảm 50-80% vụ mùa thu hoạch.

Cà phê Brazil và tiêu thụ nội địa

Ngay từ buổi đầu lịch sử, trong giai đoạn thuộc địa của châu Âu, cà phê Brazil được trồng để cung cấp trong nước, và chỉ xuất khẩu từ đầu thế kỷ 19 do nhu cầu tăng cao từ Hoa Kỳ, và các quốc gia Châu Âu khác. Cà phê dả trở thành một sản phẩm tiêu dùng rất phổ biến với hàng triệu người Brazil, có thể đơn giản là người dân thích uống cà phê chăng hoặc do chính sách vững mạnh của giới đầu ngành Brazil).

Theo Hiệp hội Cà phê thế giới, Brazil là nước tiêu thụ cà phê nội địa cao thứ nhì thế giới, chỉ sau Mỹ và là nước có lượng tiêu thụ nội địa cao nhất trong các nước sản xuất cà phê. Hiện nay Brazil tiêu thụ nội địa hằng năm khoảng 600.000 tấn cà phê, nghĩa là xấp xỉ bằng sản lượng cà phê thu hoạch mỗi niên vụ của Việt Nam. Lượng tiêu thụ cà phê bình quân đầu người đạt tới 4,7 kg/năm.

Kết./.

Việt Nam vốn là nước sản xuất cà phê chỉ đứng sau Brazil và là nước đứng đầu về sản xuất cà phê vối. Với thời tiết thuận lợi hơn Brazil rất nhiều, nhưng sản lượng tiêu thu nội địa khi so sánh với Brazil hoàn toàn khập khễnh. Khi hầu hết cà phê nhân được sản xuất ra là để phục vụ xuất khẩu thì thói quen thưởng thức cà phê của người Việt vẫn lục đục xoay quanh hai vấn đề Sạch – Bẩn. Chắn chắn là còn rất lâu để có một thị trường nội địa vững chắc cho cây cà phê Việt Nam

Tham khảo

Coffee-Obsession Magazine by Anette Moldvaer ; Published in the United States by DK Publishing – 2014 : International Coffee Organization

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: